Lượt xem: 78
ĐỀN ĐÁ – DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA QUỐC GIA

ĐỀN ĐÁ – DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA QUỐC GIA

 

Sưu tầm và biên soạn: Trần Ngọc Hợp – HUV, Bí thư Đảng bộ xã Tân Thịnh

 

 

Đền Đá nằm trên địa bàn xóm 6 thôn Nam Hà, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, cách thành phố Nam Định 12km về phía Đông Nam. Đền Đá là nơi thờ tự và tri ân công đức của nhân dân địa phương đối với ba anh em nhà họ Vũ là: Vũ Uy, Chính Ngọ và Gia Sửu (những vị tướng thời Hùng Vương) và “Thập nhị gia tiên tổ” của 12 dòng họ sớm về đây lập làng, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1992. 

Theo cuốn “Kim Âu ngọc phả” do Quốc triều lễ bộ Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính viết soạn năm Hồng Phúc 1 (1572) và Quán giám bách thần Nguyễn Hiền phụng sao (hiện lưu giữ tại đền) cho biết  vùng đất Kim Âu xưa, nay là các thôn Nam Hà, Võ Lao Thượng, Võ Lao Hạ thuộc xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Vào thời vua Hùng Duệ Vương thứ 18, ở vùng Ái Châu (Hoằng Hóa, Thanh Hóa ngày nay), có ông Vũ Công tiếp nối nghề làm thuốc và dạy học của tổ tiên, nhưng gia cảnh vẫn túng thiếu nên ông đã quyết định ra đi tìm vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Qua mấy ngày đi đường, người đã thấm mệt nên ông đành vào nghỉ tại ngôi chùa cổ bên đường. Đêm ấy, ông mơ thấy có người mách bảo nên ở tại đất Kim Âu sẽ gặp mọi sự tốt lành. Sáng dậy, ông lại tiếp tục lên đường. Khi đến một vùng phong cảnh hữu tình, thế đất đẹp đẽ như lời thơ thần nhân mách bảo, ông bèn hỏi người làng về địa danh này, thì hay đây chính là đất Kim Âu. Do đó ông quyết định ở lại dựng nhà và mở trường dạy học.

Ở Kim Âu một thời gian, Vũ Công được dân làng yêu quý, vun đắp cho ông lấy người con gái họ Hoàng tên Loan. Mấy năm sau vào ngày mồng ba tháng tám, bà Loan sinh được một bọc hai con trai. Người anh đặt tên là Gia Sửu vì khi bà Loan có mang nằm mơ thấy trâu xanh, còn người em đặt tên là Chính Ngọ bởi bà Loan mơ thấy bắt được ngựa nhảy vào trong sân. Khi Gia Sửu, Chính Ngọ mới tròn 1 tuổi thì bà Hoàng Thị Loan qua đời. Trong tình thế khó khăn, Vũ Công kết hôn với bà Trần Thị Thịnh, để lấy người nuôi dạy hai con.

Một hôm, bà Thịnh ra tắm ở bến sông gần đó, thấy một quả trứng to trôi tới, bà có ý không vớt, liền đẩy trứng ra xa, nhưng nó lại trôi vào. Bà cho đây là điềm lành, liền vớt về luộc ăn, từ đó mà có thai. Tới ngày mồng một tháng bảy năm Bính Dần bà sinh được một con trai, trên trán có chữ “Vũ Uy”, sau lưng có hàng vây cá. Thấy thế Vũ Công liền đặt tên là Vũ Uy.

Lớn lên Vũ Uy cùng hai anh là Sửu lang và Ngọ lang theo thầy học đạo, ba ông đều thông minh, am hiểu thiên văn địa lý, tinh thông võ nghệ.

Khi cha mẹ mất, ba ông làm tròn chữ hiếu, sau đó vào kinh ứng mộ được Hùng Duệ Vương yêu quý mến, phong Sửu Công là Đô hộ trấn Sơn Nam, Ngọ Công là Đương đô đại tướng quân cai quản Tả vệ quân, Uy Công là Vũ Uy đại tướng quân cai quản Hữu vệ quân, đốc lĩnh thủy tào chư sự. Ba anh em Uy Công ở triều đình phò vua giúp nước tới 20 năm.

Khi Thục Chúa tiến đánh Duệ Vương, triều đình đã giao cho Sửu Công dẫn 3 vạn quân, Chính Ngọ dẫn 3 vạn quân, Vũ Uy dẫn 2 vạn quân thủy cùng ba trăm thuyền chiến tiến đánh quân Thục. Khi ba ông, tiến quân về qua quê hương Kim Âu dân làng đến chúc mừng và tình nguyện đi theo rất đông. Ba ông đã chọn đinh tráng trong ba họ Hoàng, Trần, Lưu cả thảy 66 người, cùng lên đường đánh quân Thục. Chiến thắng trở về, ông Sửu được cử làm chỉ huy sứ Châu Hoan, ông Ngọ được phong Tả đô đài đại phu, ông Vũ Uy làm Thủy tào phán sự.

Về sau, Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Chúa. Thấy vậy, ba anh em Sửu Công, Ngọ Công, Uy Công buồn phiền, không thuần phục chủ mới, quay về làng cũ Kim Âu. Ba ông đã phân vùng đất Kim Âu làm ba thôn: Vũ Lao Hạ do Sửu Công cai quản; Đoài Thôn tức Vũ Lao Thượng do Ngọ Công cai quản; còn thôn Nam tức thôn Nam Hà thì Vũ Uy cai quản. Sống ở Kim Âu, ba ông đã khuyên dân làng chăm lo việc nông tang, cày cấy, lại còn dựng nhà dạy học cho con em nhân dân trong vùng, nên được mọi người kính trọng.

Một lần ba ông về quê cũ Ái Châu, làm lễ cáo yết gia tiên, xong việc lại tới Châu Hoan thăm phong cảnh. Khi tới núi Kim Nhan, Sửu Công, Ngọ Công đều hóa, lúc ấy là ngày rằm tháng Chạp. Thấy vậy Uy Công sợ hãi cùng mọi người thu thập mũ áo của Sửu Công, Ngọ Công đem về đất Kim Âu chôn cất (hiện nay, ở gần đền Đá Nam Hà còn khu đất gọi là “Khả Lạc lăng” với truyền thuyết nơi chôn mũ áo của Sửu Công, Ngọ Công).

Một thời gian sau, vào ngày ba tháng ba, ông Vũ Uy qua đời để lại bao sự luyến tiếc trong nhân dân. Nhân dân Kim Âu đã thiết lập đền thờ Vũ Uy Công ở thôn Nam Hà, còn ở thôn Đông, thôn Đoài tức Vũ Lao Hạ, Vũ Lao Thượng thiết lập đền thờ Sửu Công, Ngọ Công.

Ngoài việc thờ các tướng thời kỳ Hùng Vương, đền Đá Nam Hà còn thờ “Thập nhị gia tiên tổ” (12 tổ khai sáng) gồm: Tống, Nguyễn, Đỗ, Đoàn, Hoàng, Trần, Lưu, Lê, Vũ, Phạm, Bùi, Đặng sớm về đất Kim Âu lập nghiệp và hai ban thờ hai vị đại khoa là Hoàng Thiện Quy và Lưu Đại Lý

Có thể nói rằng Đền Đá là một công trình kiến trúc quy mô khá lớn, tọa lạc trên khu đất cao, rộng gần hai mẫu, biệt lập xa khu dân cư, xung quanh có nhiều cây lưu niên, cổ thụ cùng hòa nhập với cấu trúc của công trình thành một tổng thể hài hòa, hoàn chỉnh. Vì phần lớn di tích được xây dựng bằng đá, nên nhân dân địa phương gọi là đền Đá. Trải qua các triều đại, với nhiều lần trung tu, tôn tạo, công trình hiện nay còn 4 tòa và một dãy giải vũ về phía bắc.

Tòa bái đường 5 gian hoàn toàn bằng đá, được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX. Tuy nhiên, các cấu kiện như cột, xà, hệ thống cửa võng đến các thanh đấu, trụ to... vẫn giữ được phong cách kiến trúc cổ truyền của dân tộc. Lan can  tòa bái đường, chạm ba con rồng rất to, khỏe, râu tóc uy nghi, thân, vây uyển chuyển, bố cục theo tư thế chầu cân đối, như đang ôm, giữ ba chữ “Tam long giáng”, nổi bật trong ba vòng tròn hài hòa. Nghệ thuật tạo hình làm tăng sự tôn nghiêm, sự hiển vinh của ba vị tướng thời Hùng Vương, ba người con của quê hương. Các cây cột của tòa bái đường đặt trên trụ quả bồng với những hoa văn chạm nổi hình rồng trong tư thế bay lên, xen kẽ những đám mây mềm mại. Mỗi gian tòa bái đường đều có bộ cửa vòng bằng đá nguyên khối, được chạm khắc công phu với các hình tượng hổ phù uy nghiêm, hàng triện tàu lá giắt hòa nhập cùng với các đề tài “long thăng”, “long cuốn thủy”, bầu rượu, túi thơ, phượng hàm thư cùng với các hoa lá sinh động.

Tiếp đó là hai tòa đệ nhị và đệ tam. Tòa đệ tam gồm 5 gian được trùng tu năm 1877. Tòa đệ nhị gồm 5 gian được trùng tu vào năm Thành Thái 4 (1892). Hiện nay, tòa đệ nhị vẫn giữ được nhiều kiến trúc truyền thống, nổi bật là bộ cánh cửa gỗ lim được chạm khắc “lưỡng long” chầu ở hai cánh cửa. Rồng được chạm nổi, thân hình mập mạp, khỏe mạnh nhưng mềm mại hòa nhập với hoa lá, mây tản mang phong cách thời Hậu Lê (TK XVII-XVIII).

Liền với chính tẩm là tòa thiêu hương được xây dựng kiểu 3 tầng với bộ mái cong, đao guột. Các tầng được trang trí công phu với các họa tiết theo đề tài ngũ phúc, lưỡng long hý cầu...

Hiện nay, di tích còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự có giá trị lịch sử văn hóa như: sập thờ, kiệu long đình, kiệu bát cống....

          Hàng năm lễ hội đền Đá được tổ chức 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu với qui mô lớn. Lễ hội diễn ra từ ngày 02/3 đến ngày 05/3 âm lịch với nhiều nghi thức tế, lễ, rước và nhiều cuộc thi như: làm oản, làm bánh để tế Thánh, thi làm cỗ, chọn cau lễ ...và nhiều trò chơi dân gian như: múa rồng, múa gậy, trò kéo cõi (kéo dây), đấu roi, đấu vật...phản ánh tinh thần thượng võ, mang đậm bản sắc của vùng văn minh lúa nước.

 

 

Với những giá trị về lịch sử văn hóa – kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, độc đáo, năm 1992 Đền Đá thôn Nam Hà xã Tân Thịnh được bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Quốc gia.

 

Sưu tầm và biên soạn: Trần Ngọc Hợp – HUV, Bí thư Đảng bộ xã Tân Thịnh









Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 2
  • Trong tuần: 97
  • Tất cả: 3842

Cơ quan chủ quản: Xã Tân Thịnh - Nam Trực
Địa chỉ: xã Tân Thịnh - huyện Nam Trực- tỉnh Nam Định
Email: xatanthinh.ntc@namdinh.gov.vn